CVC Logo

TỤC NGỮ, CA DAO VIỆT NAM


Nguyễn Trần Quý

Không ai biết rõ tục ngữ, ca dao có từ bao giờ và những ai là tác giả. Tục ngữ, ca dao đã được truyền khẩu, và gọt dũa từ đời nọ qua đời kia, nên câu văn rất tự nhiên, trong sáng và đã biểu lộ tính tình, phong tục cuả dân tộc ta một cách chất phác, chân thực. Do đó, tục ngữ, ca dao còn được gọi là văn chương bình dân hay văn chương truyền khẩu. Tục ngữ, ca dao rất phong phu, có cả hàng trăm ngàn câu, nói về đủ mọi đề tài của cuộc sống con người.

TỤC NGỮ:

Tục ngữ là những câu nói gọn ghẽ, và có ý nghĩa đầy đủ, dùng để khuyên răn hoặc chỉ dạy một điều gì. Rất nhiều cha mẹ Việt Nam đã dùng những câu tục ngữ để dạy dỗ con cái hiểu biết những điều thông thường để sinh sống và cư xử ở đời. Tục ngữ có những câu có vần (ví dụ:“An cây nào, rào cây ấy”), hoặc không có vần (ví dụ: “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”). Tục ngữ thường nói về phong tục tập quán, về tâm lý người đời, về kinh nghiệm thường thức, về đạo làm người, cách ăn ở, xã giao v.v.:

- phong tục tập quán:
Một miếng giữa làng, bằng một sàng xó bếp.
Sống về mồ mả, không sống về cả bát cơm.
- tâm lý người đời:
Yêu nên tốt, ghét nên xấu
Cuả người bồ tát, của mình lạt buộc.
- kinh nghiệm thường thức:
Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa
Nắng tốt dưa, mưa tốt lúa.
- đạo làm người:
Tốt danh hơn lành áo
Giấy rách giữ lấy lề
- cách ăn ở, xã giao:
Gửi lời thì nói, gửi gói thì mở.
Có đi có lại, mới toại lòng nhau.
CA DAO:

Ca dao là những bài hát ngắn, theo thể thơ, có vần, có điệu. Ca dao cũng lưu truyền trong dân gian từ đời nọ qua đời kia, mà không biết ai là tác giả, nhưng chắc chắn phải là do rất nhiều người, bởi cảm xúc mà làm ra, rồi người khác nhớ lấy để truyền lại. Do đó có rất nhiều bài ca dao, nhiều đến độ không thể biết có bao nhiêu ngàn bài ca dao. Biết bao thế hệ trẻ em Việt Nam đã được ru giấc ngủ bằng ca dao, đã được dạy dỗ nên người bằng ca dao. Biết bao thế hệ thanh niên, thiếu nữ Việt Nam đã mượn lời ca dao để tỏ tình ý, rồi nên chồng. nên vơ. Ca dao diễn tả đủ mọi tình ý trong lòng người và các trạng thái trong xã hội. Sau đây là một vài dẫn chứng:

- Lời mẹ khuyên:
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghiã mẹ như muớc trong nguồn chảy ra,
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
- Về địa lý:
Đi bộ thì khiếp ải Vân,
Đi thuyền thì khiếp sóng thần hang Dơi
- Về lịch sử:
Nhớ em, anh cũng muốn vô,
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tan Giang,
Phá Tam Giang ngày rày đã cạn,
Truông nhà Hồ, Nội tán cấm nghiêm.
- Về tình yêu đôi lứa:
Mình về ta chẳng cho về,
Ta nắm vạt áo ta đề câu thơ,
Câu thơ ba chữ rành rành,
Chữ trung, chữ hiếu, chữ tình là ba,
Chữ trung thì để thờ cha,
Chữ hiếu thờ mẹ, đôi ta chữ tình.
Cô kia cắt cỏ một mình,
Cho anh cắt với chung tình làm đôi
Cô còn cắt nữa hay thôi,
Cho anh cắt với, làm đôi vợ chồng.
KẾT LUẬN:

Trong khuôn khổ của bài viết ngắn này, không thể kể thêm nhiều ví dụ nữa, nhưng chúng ta cũng có thể kết luận rằng tục ngữ, ca dao là kho tàng văn chương chung của dân tộc Việt Nam: cùng chung sáng tác, cùng chung lưu truyền từ đời nọ qua đời kia và cùng chung chia sẻ những giá trị chỉ dạy từ kho tàng chung ấy. Chính tục ngữ, ca dao đã là những lời dạy dỗ đầu đời về đạo làm người, về cách xử thế trong cuộc sống và cả những kiến thức tối thiểu để sống với đời. Riêng ca dao còn làm vui cuộc đời qua những lời thơ tình tứ, lãng mạn. Tục ngữ, ca dao là một kho tàng vô giá đối với người dân Việt. Không ai thuộc hết được ca dao, tục ngữ, nhưng cũng không ai không thuộc được một số câu tục ngữ, ca dao.

(Theo TỤC NGỮ PHONG DAO – Nguyễn Văn Ngọc, HàNội 1928 & VIỆT NAM VĂN HỌC SỬ YẾU- Dương Quảng Hàm, Sàigòn 1956)